Vai trò của đọc kể diễn cảm đối với trẻ mầm non

 Kĩ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học có vai trò quan trọng đối với quá  trình  rèn  nghề  của  sinh  viên  ngành  Giáo  dục  Mầm  non.  Vì  vậy,  ngoài  việc  nâng  cao  nhận thức và ý thức thì các kĩ thuật đọc, kể diễn cảm như: xác định giọng điệu cơ bản;  sử dụng ngữ điệu; sử dụng các yếu tố kèm ngữ điệu là những kĩ năng cụ thể mà sinh  viên cần kiên trì rèn luyện.  

Đặt vấn đề 

Vấn đề cảm thụ và tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ mầm non được nhiều nhà tâm lý và sư phạm nghiên cứu và khẳng định rằng: Trẻ rất thích nghe  đọc thơ và nghe kể chuyện. Tất cả những tình cảm đối với cuộc sống của trẻ đều có thể  được chuyển hóa vào những nhân vật trong các tác phẩm văn học mà trẻ được nghe. Tuy nhiên, sự cảm thụ tác phẩm văn học ở trẻ lại là kết quả của một quá trình tiếp xúc thường xuyên với tác phẩm văn học thông qua sự nỗ lực của cô và sự tích lũy kinh nghiệm của trẻ. 

Xem thêm: Bài viết về xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm

Vai trò của đọc kể diễn cảm đối với trẻ mầm non

Vì vậy, đọc, kể là những kĩ năng không thể thiếu đối với giáo viên và trước hết là đối với sinh viên ngành Giáo dục Mầm non. Tuy nhiên, thực tế việc rèn luyện những kĩ năng này trong trường sư phạm chưa đáp ứng tốt công cuộc đổi mới giáo dục Mầm non hiện nay. Từ lý luận và thực trạng rèn kĩ năng đọc, kể của sinh viên, bài viết đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm góp phần khắc phục thực trạng, nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ngay từ khi sinh viên ngồi trên ghế nhà trường.  

Nội dung 

1. Vai trò của việc rèn kĩ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học đối với sinh viên ngành Giáo dục Mầm non 

1.1. Vai trò của việc đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học trong cuộc sống con người  

Đọc, kể tác phẩm văn học có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người vì hoạt động này giúp chúng ta mở ra cánh cửa kỳ diệu của tri thức, bồi dưỡng trong ta tư tưởng, tình cảm, góp phần giúp ta hoàn thiện nhân cách.... vì trước hết, bản thân tác phẩm văn học phản ánh hiện thực cuộc sống một cách toàn diện và sâu sắc. Những nhận định như: “Văn học là cuộc sống” (Khrapchenco), “Văn học là nhân học” (M. Gorki), “Văn học cứu rỗi cuộc sống bằng cái đẹp” (Ôtxtơrôpxki), “Văn học nghệ thuật có tác dụng thanh lọc tâm hồn (catacxit) con người” (tâm lý học nghệ thuật Xô Viết cũ)... đã khẳng định điều đó. 

Nói một cách cụ thể hơn, đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học là hình thức tiếp cận văn bản một cách nghệ thuật nhằm “làm vỡ” lớp vỏ ngôn từ - lớp thứ nhất của tác phẩm, giúp người đọc “nhìn thấy” những lớp bên trong ẩn hơn, có sức chuyển tải nhiều hơn chủ đề và tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Do đó, đọc, kể tác phẩm văn học không chỉ giúp người đọc được nâng cao hiểu biết về con người và cuộc sống mà còn là cầu nối tình cảm giữa bạn đọc với nhà văn, giữa người đọc, kể với người học, người nghe. Qua đó, con người hiểu nhau hơn, cuộc sống phong phú hơn, mang tính “người” hơn. 

1.2. Sự cần thiết phải rèn kĩ năng đọc, kể đối với sinh viên ngành Giáo dục Mầm non 

Đối với sinh viên ngành giáo dục Mầm non, đọc, kể không những mang lại những ích lợi nêu trên mà còn là kỹ năng bắt buộc phải rèn luyện để sử dụng trong dạy học ở trường mầm non khi sinh viên đi thực hành, thực tập và sau này trở thành những giáo viên mầm non. Cụ thể hơn, đây là kỹ năng quan trọng nhất trong các kĩ năng cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Vì thế, trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non, kĩ năng đọc, kể được thực hiện tập trung trong một số  học  phần như: Văn học  thiếu nhi và đọc,  kể  diễn  cảm  tác  phẩm văn học; Phương pháp làm quen với văn học. 

Thêm nữa, với xu hướng dạy học tích hợp các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm thì thơ, truyện đã có mặt trong tất cả các giờ học. Ngoài ra, trẻ em lứa tuổi mầm non chưa biết chữ nên quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đọc, kể của giáo viên.  Vì vậy, có thể khẳng định, việc rèn kĩ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sinh viên ngành giáo dục Mầm non ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. 

2. Thực trạng rèn kĩ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học của sinh viên ngành Giáo dục Mầm non 

2.1. Những ưu điểm: 

  • Phần lớn sinh viên nhận thức được vai trò của việc rèn kỹ năng đọc, kể nhằm phục vụ cho công việc học nghề và làm nghề trong tương lai của mình. 
  • Phần lớn sinh viên phát âm chuẩn, một số sinh viên đã có kỹ năng đọc diễn cảm tốt; tư thế, tác phong mạnh dạn, tự tin, tự nhiên; phân biệt được cách đọc các thể loại thơ, truyện; phân biệt cách kể truyện với cách đọc truyện... 
  • Phần lớn sinh viênhá chăm chỉ, chịu khó rèn luyện đọc, kể, thực hiện tương đối đầy đủ, chu đáo các bài tập rèn kỹ năng đọc, kể mà giáo viên yêu cầu. 

2.2. Những tồn tại: 

  • Một số sinh viên chưa xác định chín chắn nghề nghiệp tương lai của mình nên chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp, trong đó có kỹ năng đọc, kể tác phẩm văn học
  • Một số sinh viên còn phát âm chưa chính xác do ảnh hưởng tiếng địa phương; chưa nắm được các kỹ thuật, thủ thuật đọc, kể diễn cảm; kiến thức văn học trẻ em, kiến thức tiếng Việt còn “hổng” nhiều... nên chất lượng đọc, kể chưa cao. 
  • Một số sinh viên do yếu tố tâm lý chưa bền vững nên khi đứng trước tập thể thường không bình tĩnh; chưa chịu khó rèn luyện, còn ngại hoặc lười biếng, thiếu sự kiên trì... ảnh hưởng đến chất lượng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học

3. Một số biện pháp khắc phục 

3.1. Nâng cao nhận thức cho sinh viên về tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học.  

Cần nâng cao nhận thức cho sinh viên về tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng đọc, kể diễn cảm vì đây là những kỹ năng quan trọng nhất để dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học và các hoạt động khác  ở trường mầm non. Trường sư phạm có thể tổ chức cho sinh viên thi tìm hiểu về vai trò của đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học trong các đợt thi nghiệp vụ nghề nghiệp hoặc tổ chức dạy học theo lối “phản đề” để sinh viên tự nhận thức: Nếu không đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học thì có ảnh hưởng gì đến việc tiếp nhận tác phẩm văn học không?...  

3.2. Cần coi trọng khâu chuẩn bị để tiến hành đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học 

Trước khi tiến hành đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học, cần chú ý khâu chuẩn bị: chuẩn bị về bài đọc, kể (luyện phát âm, luyện giọng, luyện đọc, kể tác phẩm văn học trước ở nhà nhiều lần; tra từ điển để hiểu nghĩa từ khó (nếu có)...; chuẩn bị về tâm thế, về tác phong... Chúng tôi cho rằng, việc chuẩn bị trước khi lên lớp là rất cần thiết và quan trọng, chuẩn bị tốt để tăng tự tin, chủ động. Bởi lẽ, muốn đọc, kể diễn cảm tốt, sinh viên phải tập luyện đọc, kể thật nhiều lần bằng cách: tự đọc, kể cá nhân hoặc đọc, kể theo nhóm, thông qua nhóm có thể trao đổi lẫn nhau và rút kinh nghiệm cho nhau về giọng điệu, ngữ điệu, tâm thế, tác phong...  

3.3. Rèn các kỹ thuật đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học 
3.3.1. Kỹ thuật xác định giọng điệu cơ bản 

   Giọng điệu cơ bản là tính chất chung của giọng đọc, giọng kể khi trình bày một tác phẩm văn học giọng điệu cơ bản phụ thuộc vào thể loại, vào nội dung tư tưởng và phong cách ngôn ngữ của tác phẩm. Có một số loại giọng điệu cơ bản sau:  

  • Giọng điệu êm nhẹ, tha thiết: Được sử dụng với những tác phẩm văn học phản ánh cuộc sống êm đềm, hạnh phúc, đáng yêu.  
  • Giọng điệu vui tươi, sôi nổi hoặc buồn, bâng khuâng, man mác: Được sử dụng với những tác phẩm văn học có những khung cảnh nhộn nhịp, diễn tả những tình cảm vui sướng, hân hoan của con người và cảnh vật thiên nhiên, khung cảnh ồn ào, náo nhiệt.... Hoặc thể hiện tâm trạng buồn, đau khổ, mất mát; sự mệt mỏi, ốm yếu... của nhân vật 
  • Giọng điệu trang trọng: Được sử dụng đối với những tác phẩm văn học thể hiện lòng kính yêu, sự ngưỡng mộ, ca ngợi trước những vị lãnh tụ, tình yêu quê hương đất nước.  Chẳng hạn, truyện cười bao giờ cũng có yếu tố hài hước, châm biếm nên được đọc, kể với giọng điệu vui, dí dỏm, sảng khoái. Truyện cổ tích lại được đọc, kể với giọng thủ thỉ, tâm tình, chậm rãi, nhẹ nhàng phù hợp với không gian, thời gian kỳ bí, huyền ảo... 

Câu chuyện “Quả táo của ai” cần xác định giọng điệu cơ bản là trong sáng, sôi nổi. Bài thơ “Hạt gạo làng ta” cần thể hiện giọng điệu cơ bản là giọng trang trọng, thiết tha, thể hiện được niềm tự hào của tác giả đối với quê hương cũng như tình cảm gắn bó, thái độ trân trọng, sự biết ơn sâu sắc đến người lao động của Trần Đăng Khoa.  Việc lựa chọn và thể hiện giọng điệu cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm. Nếu xác định giọng điệu cơ bản không chính xác, có thể làm cho người nghe, thậm chí chính người đọc, người kể không hiểu tác phẩm hoặc hiểu sai tác phẩm. 

3.3.2. Kỹ thuật sử dụng ngữ điệu khi đọc, kể diễn cảm  

Trên nền giọng điệu cơ bản, người đọc, kể còn phải sử dụng ngữ điệu để trình bày trọn vẹn tác phẩm. Ngữ điệu được sử dụng để biểu thị ý nghĩa và phạm trù ngữ pháp cũng như sắc thái cảm xúc. Do vậy, NĐ là sự tổng hợp các sắc thái khác nhau của giọng bao gồm cao độ, cường độ, trường độ, nhịp điệu, âm sắc, sự ngắt nghỉ hơi, nhấn giọng, chính âm... 

Nói cách khác, để tạo ra ngữ điệu, người đọc, kể phải làm chủ được các thông số về âm thanh, tạo ra tốc độ bằng cách điều chỉnh độ nhanh, chậm và chỗ ngắt nghỉ. Tạo ra cao độ bằng cách cao giọng, hạ giọng. Tạo ra trường độ bằng cách kéo dài hay không kéo dài... 

Trở lại với câu chuyện “Quả táo của ai”, trên cơ sở giọng điệu cơ bản là trong sáng, sôi nổi, ngữ điệu được sử dụng khi thể hiện lời thoại của Thỏ, Nhím, Quạ cần phải cao, thậm chí có phần gay gắt  thể  hiện được  ý  thức  tranh  chấp  của  các  con  vật này. Ngữ điệu của  Nhím  có  tính  chất khẳng định: “Quả táo chín rụng, tôi bắt được mà!”. 

Ngữ điệu của Thỏ kiên quyết hơn: “Tôi tìm thấy quả táo chứ! Quả táo này của tôi”. Ngữ điệu của Quạ đen quyết liệt không kém: “Quả táo này tôi hái đấy!”. Đối lập với âm vực cao, có tính gay gắt đó là âm vực trầm, thể hiện tính cách ôn hòa, điềm tĩnh của Gấu: “Các cháu đừng tranh cãi nữa! Cả ba cùng nói đúng, song không tranh giành như vậy, hãy bổ quả táo ra làm ba phần, mỗi cháu một phần”... 

Khi kể chuyện “Cóc kiện trời”, ngữ điệu chung thể hiện ở nhịp điệu sôi nổi, rõ ràng, có pha chút cảm phục. Đoạn đầu được kể với nhịp điệu chậm rãi, với mục đích giới thiệu bối cảnh câu chuyện và các nhân vật. Đến đoạn miêu tả cuộc chiến giữa các nhân vật và tay chân của Ngọc Hoàng, cần thể hiện nhịp điệu nhanh hơn, cường độ mạnh hơn phù hợp tính chất căng thẳng của cuộc chiến đấu: “Bầy gà vừa ló khỏi cửa, Cóc ra lệnh cho Cáo xông ra vồ gà. Biết gà bị vồ mất, Ngọc Hoàng sai chó ra giữ Cáo. Chó chạy ra chỉ kịp sủa lên mấy tiếng đã bị Gấu ra chộp lấy tha đi. Ngọc Hoàng lại sai một toán lính ra giữ Gấu. Lần này Cọp xông ra quật chết từng lính không sót người nào...”. 

Liên quan đến cường độ, nhịp điệu, phải kể đến ngắt giọng. Ngắt giọng đúng chỗ hay còn gọi là ngắt giọng lôgíc do ý nghĩa của câu, của đoạn văn quyết định. Đó là những chỗ dừng, nghỉ của các nhóm từ có ý nghĩa liên quan tới nhau. Nó được biểu thị trên các dấu chấm, dấu phẩy, dấu hai chấm...Ngoài ngắt giọng logic còn có ngắt giọng tâm lý và ngắt giọng thi ca. ngắt giọng tâm lý thể hiện ở những chỗ ngưng giọng tuỳ theo việc thể hiện tâm trạng của nhân vật hoặc ý nghĩa của tác phẩm. Quãng ngắt giọng ngắn thường ở trong nhịp điệu nhanh, cường độ mạnh thể hiện tính chất náo nhiệt hoặc căng thẳng. Quãng ngắt giọng dài thường trong nhịp điệu  chậm,  cường  độ  nhẹ,  thể  hiện  tính  chất  buồn  bi  thương.  

K.Xtanixlapxki  nói: “Không có ngắt giọng lôgíc, câu sẽ không có nội dung, không có ngắt giọng tâm lí, câu không có sức sống... Ngắt giọng lôgíc phục vụ cho trí tuệ, NG tâm lí phục vụ cho tình cảm”. Thơ là cách nói thường có ngắt giọng cố  định. Nếu không tuân thủ  việc ngắt giọng trong thơ thì người nghe không cảm thụ được tính nhịp điệu khi chuyển từ câu thơ này sang câu thơ khác và nhịp điệu toàn bộ tác phẩm. Vì vậy cần chú ý ngắt giọng thi ca. Nhờ có ngắt giọng thi ca mà nhịp thơ được giữ vững. 

Ví dụ: thơ 3 tiếng: nhịp 3; thơ 4 tiếng: nhịp 2/2; thơ 5 tiếng: nhịp 3/2 hoặc 2/3... 

Ví dụ: Bài thơ “Con cua”- nhịp 2/2 

                     “Con cua/ tám cẳng/ 

                     Nghênh ngang/ hai càng/ 

                     Đeo chiếc/ yếm trắng/ 

                     Dạo chơi/ đồng làng/”.  

Hoặc: Bài thơ “Mầm non”, nhịp 2/3 hoặc 3/2 

Mầm non/ mắt lim dim/ 

Cố nhìn qua/ kẽ lá/  

Thấy mây/ bay hối hả/  

Thấy lất phất/ mưa phùn/. 

Với một văn bản viết, đọc để hiểu hết ngôn từ, ý câu cần đòi hỏi phải đọc đúng chỗ ngắt giọng. Nếu ngắt giọng sai làm ngữ nghĩa câu sai hoàn toàn. Ví dụ, khi đọc bài thơ “Cây dừa” của Trần Đăng Khoa, ở câu “Quả dừa đàn lợn con nằm trên cao”, trẻ có thể ngắt nhịp theo cảm tính: 2/2/2/2. Ngắt như vậy không đúng ngữ nghĩa của câu. Bởi vậy, khi dạy trẻ đọc, người dạy cần đoán trước các lỗi sai của trẻ, giúp trẻ hiểu nội dung. 

Ở câu thơ trên, quả dừa được tác giả ví như đàn lợn con nằm ở trên cao. Hiểu được như vậy thì trẻ sẽ ngắt giọng đúng: “Quả dừa/ đàn lợn con/ nằm trên cao” (ngắt nhịp 2/3/3). Ngoài ra, việc nhấn giọng vào một số từ ngữ có tác dụng truyền cảm hoặc làm nổi bật một nội dung nào đó. Cần nhấn giọng ở tên tác giả, tác phẩm, các danh từ, tính từ, động từ, các từ diễn tả tâm trạng...Ví dụ: Trong câu chuyện “Ba cô gái”, cần nhấn giọng vào các từ được gạch chân trong lời thoại sau: “Thương mẹ, / thương mẹ/ mà lại còn cọ chậu đã/ rồi mới về thăm mẹ. Thôi/ cứ ở nhà mà cọ chậu.”. 

Một yếu tố nữa trong việc xác định đúng ngữ điệu không thể không nói đến là chính âm. Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội. Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng (1995) đã định nghĩa: “Chính âm là cách phát âm được coi là chuẩn”. Chính âm được coi là yếu tố quan trọng của lời nói có văn hóa. Thế nhưng, do ảnh hưởng của phương ngữ vùng đồng bằng Bắc Bộ, một số sinh viên còn phát âm sai giữa phụ âm l với phụ âm n; ch với tr; s với x; d, gi với r và còn chuyển từ phụ âm này sang phụ âm khác....

Ví dụ: “đi làm” thì nói là “đi nàm”; “con trâu” nói thành “con tâu”... Sinh viên cần khắc phục lỗi này để dạy trẻ phát âm đúng.   Như vậy, các thủ thuật về ngữ điệu có vai trò rất quan trọng đối với việc rèn kỹ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học. Do đó, muốn làm được tốt những điều này, sinh viên cần phải làm tốt công tác chuẩn bị (như đã nói ở trên).  

3.3.3. Kỹ thuật sử dụng các yếu tố kèm ngữ điệu  

Các yếu tố kèm ngữ điệu là những yếu tố phụ trợ đi kèm ngữ điệu, bao gồm: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ; còn gọi là yếu tố phi ngôn ngữ... Sử dụng các yếu tố này khi đọc, kể nhằm làm tăng thêm sức truyền cảm cho lời nói, tạo sự giao cảm giữa người đọc, người kể với người nghe và tăng sức biểu cảm của tác phẩm. Vì thế, khi truyền đạt một tác phẩm đến cho trẻ, người dạy cần chú ý đến những yếu tố này.  

Việc sử dụng các yếu tố kèm ngữ điệu cũng có sự khác nhau giữa đọc và kể. Khi đọc, do phải trung thành với văn bản đọc nên các yếu tố kèm ngữ điệu được sử dụng hạn chế hơn. Còn khi kể, người kể được thoát ly văn bản kể, linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ kể nên có nhiều điều kiện sử dụng các  yếu tố kèm ngữ điệu hơn. Tuy vậy, trong cả hai hình thức đọc, kể, nét  mặt thể hiện rõ nhất sự giao cảm giữa người đọc, người kể với người nghe. Đây chính là “linh hồn” của cuộc giao tiếp giữa những chủ thể giao tiếp. 

Việc sử dụng các yếu tố kèm ngữ điệu phù hợp sẽ có tác dụng truyền thụ tốt tới người nghe. Nét mặt, ánh mắt tươi vui nếu là tác phẩm vui, diễn biến có hậu, có tình tiết ngộ nghĩnh. Nét mặt buồn nếu tác phẩm có tính chất bi thương... Tuy nhiên, tư thế, cử chỉ, điệu bộ... sẽ mất đi sức biểu cảm mạnh mẽ nếu lạm dụng nó. Vì thế, cần sử dụng chúng với mức độ hợp lý để trẻ khỏi bị phân tán bởi những ấn tượng bên ngoài tác phẩm. 

Ví dụ, với bài thơ “Ông mặt trời” của Ngô Thị Bích Hiền, khi đọc cần sử dụng giọng vui, dí dỏm, nét mặt tươi, phần sau ngữ điệu cao hơn phần trước. Có thể kết hợp cử chỉ “nhíu mắt”, ngẩng mặt, mắt nhìn lên và nhìn xuống cùng với tay chỉ lên cao và hạ xuống thấp khi đọc những câu thơ: “Em nhíu mắt nhìn ông/ Ông nhíu mắt nhìn em/ Ông ở trên trời nhé!/ Cháu ở dưới này thôi!/...”. Hơn nữa, cần phải có tâm thế sẵn sàng, tác phong thoải mái, tự nhiên khi đọc, kể. 

3.4. Kiên trì luyện tập 

Để việc đọc, kể được tốt, mỗi sinh viên phải luôn ý thức rằng, đây là công việc phải được thực hiện thường xuyên, mọi nơi, mọi lúc, liên tục với lòng kiên trì, chịu khó. Khi luyện  tập,  cần  chú  ý  các  kỹ  thuật  bổ  trợ  cho  việc  luyện  tập như luyện  lấy hơi, luyện giọng, ... Có thể lựa chọn các hình thức luyện tập như: đứng trước gương để tự quan sát bản thân mình; ghi âm lại giọng đọc, kể của mình rồi tự chỉnh sửa; đọc, kể cho bạn nghe và góp ý, chỉnh sửa cho nhau...  

Kết luận Vai trò của đọc kể diễn cảm đối với trẻ mầm non

Hoạt động đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học đóng vai trò hết sức quan trọng trong dạy học ở trường mầm non. Vì vậy, sinh viên ngành giáo dục Mầm non cần thường xuyên rèn luyện các kĩ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học để góp phần giúp trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học, mở cho trẻ cánh cửa nhìn vào tương lai tươi đẹp và trong sáng hơn.

Không có nhận xét nào

Được tạo bởi Blogger.